Saturday, 23/10/2021 - 21:31|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường TH ĐẠI THÀNH

LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG ĐÌNH LÀNG ĐẠI TẢO XÃ ĐẠI THÀNH

LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG

ĐÌNH LÀNG ĐẠI TẢO

XÃ ĐẠI THÀNH

I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI

            Đình Đại Tảo hiện nằm trên một khu đất rộng thoáng thuộc khu vực đội 1 thôn Đại Tảo xã Đại Thành huyện Quốc Oai ngoại thành Hà Nội.  Cũng như các làng cổ khác trong vùng, khi tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng phát triển mạnh mẽ thì ngôi đình làng Đại Tảo đã ra đời nhằm thỏa mãn hai chức năng:  Nơi hội họp sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của dân làng và nơi tôn thờ các vị thần thành hoàng - Vị thần bảo hộ cho cuộc sống của mọi thành viên trong làng.

Căn cứ và sự ghi chép trong các cuốn thần phả hiện còn trong đình và theo truyền thuyết dân gian lưu truyền ở địa phương thì đình Đại Tảo thờ hai vị thành hoàng của làng là Linh Lang đại vương và Ả Lã nương nương.

           Dựa vào các di vật có niên đại cụ thể trong đình, di vật có niên đại sớm nhất là tấm bia đá làm năm 1672 do vậy có thể nói ngôi đình được xây dựng trước năm 1672.

II. KIẾN TRÚC

        Đình Đại Tảo được xây dựng theo kiểu kết cấu kiến trúc hình chữ Đinh. Bao quanh đình là hệ thống tường lửng và hàng cây tạo nên một khuôn viên khép kín. Các công trình kiến trúc của đình nằm gọn trong khuôn viên đó. Từ ngoài vào đình Đại Tảo gồm các công trình kiến trúc sau:

  1. Tam quan

       Tam quan đình Đại Tảo được xây dựng theo lối tam quan trụ. Ba lối vào cửa tam quan được tạo bởi 4 cột trụ gạch.

- Hai trụ giữa và cũng là 2 trụ chính

- Hai trụ hai bên nhỏ hơn và được làm đơn giản hơn.

  2. Tả vu            

Trên một phần nền của đại đình xưa hiện nay có một dãy tả vu. Dãy này được làm vào năm 1954 Một dãy bên phía tây bắc và một dãy phía đông nam.

3. Đại Đình  

    Đại Đình là một ngôi nhà 3 gian lẻ được làm theo kiểu nhà đầu hồi bít đốc. Ngoài 4 cột cái gian giữa đại đình, tất cả các cột trong đình đều được làm bằng những cột đá khối trụ vuông và được kê trên các khối chân tảng bằng đá

4. Hậu cung

Nối liền với gian giữa đại đình và chạy về phía sau là phần hậu cung đình. Hậu cung là ngôi nhà chạy dọc gồm 2 gian được làm khá đơn giản.

        Tại gian ngoài của hậu cung đặt bộ giá ngự sơn son thếp vàng. Gian trong được ngăn riêng ra tạo thành phần cung cấm của đình. Trong cung cấm được làm thành sàn để bày long ngai, bài vị, các đồ tế khí.

III. VĂN HÓA - LỄ HỘI

            1/ Văn hóa:

       - Từ cổ xưa đại đình chính là nơi tề tựu của các vị bô lão họp bàn việc làng, việc xã.

       - Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước đình làng là nơi dấu vũ khí và chứa cán bộ cách mạng, là nơi đầy tình cảm của người ở lại hậu phương và Đảng bộ, nhân dân trong thôn tiễn đưa lớp lớp những người con ưu tú của quê hương lên đường tòng quân giết giặc đem lại cuộc sống bình yên hạnh phúc cho nhân dân, góp phần vào thắng lợi của vẻ vang của dân tộc Việt Nam .

       - Ngày nay, kế thừa phong tục văn hóa tốt đẹp ấy vào ngày mở hội, đình làng là nơi gặp gỡ của thanh niên trong làng, của các hội đồng hương, đồng niên, đồng ngũ, nhân dân địa phương... dâng nén hương thơm với tấm lòng thành kính, biết ơn.

       - Đình làng cũng là nơi sinh họat văn hóa của các cụ cao tuổi.

Năm ………. đình làng được bộ VHTT xếp hạng là DTLS Văn hóa cấp ……..

            2/ Lễ hội:

      - Để tưởng nhớ vị anh hùng Linh Lang Đại Vương và công ơn của Ả Lã Nương Nương  hàng năm vào ngày 12, 13 /01( âm lịch) Đảng bộ và nhân dân thôn Đại Tảo – Đại Thành tổ chức lễ hội.

      - Trong tiếng chiêng trống trầm hùng, cờ xí rợp bóng người, Những hàng đô được chọn lựa từ con em trong thôn với trang phục truyền thống khiêng trên vai Long Đình, Kiệu … bằng gỗ, từ đình làng đi theo trục đường chính đến Quán Trần để tế lễ sau đó lại rước về đình làng vào trước 24 giờ ngày 12/01.   

      - Tiếp đến tế tễ tại Đình làng vào ngày 13/01.

      - Hội làng không chỉ có những nghi thức tế lễ. Ở đây còn có các trò chơi dân gian như: chọi gà, bắt vịt, hát quan họ . . .

Lễ hội đình làng thu hút nhiều khách thập phương và con em nhân dân địa phương xa gần về trẩy hội.

 

ĐỌC THÊM

1. Linh Lang đại vương:

Linh Lang vốn là một vị thần có thật trong lịch sử được thờ trong nhiều di tích ở nội ngoại thành Hà Nội. Đó là vị thần trấn giữ cửa ngõ phía tây bảo vệ cho kinh thành Thăng Long xưa.

Linh Lang được thờ trong đình Đại Tảo vốn là con trai của vua Lý Thái Tông và bà Hạo Nương. Thần có tên tự là Đà Thiên Thành (1029). Lúc sinh ra Linh Lang có tướng mạo khôi ngô tuấn tú khác thường. Lớn lên, Linh Lang học hành thông minh, tinh thông võ nghệ. Vào năm đầu niên hiệu Thiên Cảm Thánh Vũ (1044), có bọn giặc nhà Tống là Triệu Khiết, Quách Đạt ngầm liên kết với vua Chiêm Thành, Chân Lạp kéo đại quân sang xâm lược nước ta. Trong tình cảnh đất nước bị nạn ngoại xâm đe dọa, Linh Lang bèn xin vua cha đi đánh giặc. Linh Lang chiêu mộ quân sĩ các vùng và sai Lê Bảo, Phạm Hoằng là tả hữu tỳ tướng cùng các tướng Trương Bản, Đinh Hiền, Nguyễn Sán, Đặng Tích, Trần Hưng tiến quân đi đánh giặc. Quân của Linh Lang đánh nhau với quân Tống ở vùng Quốc Oai. Sau đó, Linh Lang kéo quân đuổi đánh quân Chiêm, tiến đến kinh đô Đỗ Bàn, giết được vua Chiêm là Sa Đẩu, quân chiêm tan tác bỏ chạy. Khải hoàn, Linh Lang được ban thưởng rất hậu. Phần thưởng đó, Linh Lang xin nhà vua cho đem đi phân phát cho dân và xin vua cha cho tung cò làm nhà, cò rơi về vùng Thủ Lệ. Năm Long Thụy Thái Bình, Linh Lang dời nhà về vùng cửa Bắc. Năm 1062, vua đi duyệt binh ở Dâm Đàm (tức Hồ Tây) có con rắn lớn quăng xuống thuyền nhà vua, Linh Lang bèn rút gươm chém chết rắn. Ba năm sau, năm 1065, Linh Lang chết.

Sau khi Linh Lang chết, nhà vua phong cho là Đại vương và sắc cho các nơi thờ phụng. Linh Lang đã được dân làng Đại Tảo tôn làm thần thành hoàng và thờ ở đình.

  1. Ả Lã nương nương:

Truyền thuyết lưu truyền rằng, có ông Nguyễn Viên quê ở Châu Ái (nay là vùng Thanh Hóa) ra Cổ Châu (nay thuộc Quốc Oai) làm một chức quan nhỏ. nhà Hán bạo ngược nên ngầm liên kết các lực lượng để chống lại bọn Tô Định. Nhưng cũng như Thi Sách (chồng bà Trưng Trắc), ông bị bọn Tô Định giết hại. Khi ông qua đời để lại vợ và hai con: con gái lớn là Ả Lã (cũng gọi là Ả Lã nương nương hay Ả Lã nàng Đê) và con trai tên là Chàng Quốc. Ba mẹ con tần tảo nuôi nhau sống qua ngày. Đến tuổi trưởng thành Ả Lã đẹp người đẹp nết và tài giỏi lạ thường. Khi Hai Bà Trưng truyền dịch khởi nghĩa chống nhà Hán đô hộ, hai chị em Ả Lã liền chiêu mộ binh sỹ quanh vùng và kéo về tụ nghĩa ở vùng cửa sông Hát. Ả Lã được Hai Bà Trưng phong là Phương Anh công chúa và người em trai được phong là Quốc Công. Hai chị em theo theo nghĩa quân của Hai Bà trưng đi đánh giặc nhà Hán. Hai chị em Ả Lã lập được công lớn trong công cuộc đánh đuổi giặc đô hộ nhà Hán,  giải phóng đất nước. Hai Bà Trưng lên ngôi vua ban thưởng bổng lộc chức tước và theo hai chị em Ả Lã về lập ấp huyện quan ở vùng sông Đáy. Tại đây, Ả Lã dạy dân trồng  dâu nuôi tằm sinh sống, chăm lo cuộc sống của dân và luyện tập binh sĩ. Được mấy năm, nhà Hán sai Mã Viện kéo đại quân sang đánh chiếm nước ta. Thế giặc mạnh Hai Bà Trưng thua trận, túng thế Hai Bà Trưng trầm mình xuống sông Hát tự vẫn. Hai chị em Ả Lã kiên quyết chống giặc nhưng cuối cùng cũng lần lượt hy sinh anh dũng trên dòng sông Đáy. Để tưởng nhớ công ơn của hai vị tướng giỏi nhân dân trong vùng ven sông Đáy đều lập đền thờ. Dân làng Đại Tảo cũng tôn Ả Lã làm thành hoàng và thờ phụng trong đình.        

  1. Các di vật được lưu giữ đến ngày nay.

Tồn tại đến nay, đình Đại Tảo hiện còn giữ lại được một khối lượng di vật khá lớn. Di vật của đình khá đa dạng và phong phú về loại hình chất liệu. Trong số đó nhiều di vật của đình có giá trị nghệ thuật cao.

               1.Thần phả: 4 cuốn. Nội dung ghi chép sự tích các vị thần thành hoàng được thờ trong đình.

2. Sắc phong: 12 đạo hầu hết là các đạo sắc của các triều vua nhà Nguyễn phong cho các vị thần thành hoàng.

 3.Bia ký: 5 tấm. Bia được làm từ các khối đá xanh nhạt hạt mịn. Bia được tạo tác khá đẹp. Trán và điểm bia đều được làm vào thời Lê. Bia có niên đại sớm nhất là tấm bia được dựng vào năm đầu niên hiệu Dương Đức (1672). Đây cũng là tấm bia to nhất và đẹp nhất của đình.

 4. Hoành phi câu đối: hiện trong đình còn 9 đôi câu đối, 2 bức hoành phi. Nội dung ca ngợi cảnh đẹp của đình cà ca ngợi công đức của các vị thần thành hoàng.

5. Đồ thờ tự:

  • Nhang án gỗ sơn son thếp vàng chạm thửng kết hợp chạm nổi đề tài rồng cuộn, hoa lá, hoa dây, văn hình học…
  • Nhang án gỗ sơn son thếp vàng chạm lộng chạm thủng các đề tài tứ linh, hổ phù, cúc dây, hoa chanh, lá đề…
  • Bộ kiệu bát cống sơn son thếp vàng chạm hình rồng hổ phù. Kiệu được làm vào thời Lê trung hưng.
  • Bộ long đình gỗ sơn son thếp vàng.
  • Cây quán tẩy gỗ sơn son chạm hình trúc hóa rồng và hoa sen.
  • 2 bát hương đá chạm nổi hình rồng, hổ phù, lưỡng long triều nguyệt, văn mây sóng nước, cánh sen…
  • 3 voi đá
  • 2 chóe sứ vẽ lam thời Thanh.
  • Bộ đỉnh đồng, lư hương đồng, bát hương đất nung…
  • Long ngài bài vị mũ hia quần áo thờ…

          Một số di vật trong đình là những tiêu bản quý góp phần làm phong phú thêm cho bộ sưu tập hiện vật vủa các thời kỳ lịch sử, là những hiện vật góp phần tìm hiểu nghiên cứu về nền nghệ thuật chạm khắc trang trí của dân tộc ta.  Các tài liệu văn tự trong đình là những văn bản giúp cho việc tìm hiểu nghiên cứu về ngôi đình, về phong tục tập quán của dân địa phương… Ngôi đình là di tích góp thêm vào hệ thống các di tích ven sông Đáy và nó cũng làm phong phú thêm cho hệ thống các truyền thuyết về dòng sông Đáy trong lịch sử dân tộc, Nữ tướng thời trưng vương.

     

( theo nguồn tư liệu TH Đại Thành sưu tầm) 

 

 

                                                                          

 

 

 

 

 

Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 33
Hôm qua : 40
Tháng 10 : 1.595
Năm 2021 : 29.871